SỬ DỤNG NGỮ NGHĨA HỌC QUAN HỆ ĐỂ MÔ TẢ CÁC CƠ CHẾ BIẾN ĐỔI NGHĨA
Từ khóa:
ngữ nghĩa học quan hệ; ẩn dụ; hoán dụ; khái quát hoá; chuyên biệt hoá; xấu nghĩa; tốt nghĩa; loại suy; thăng cấp; giáng cấp; nhân quả hoá; vai hoá thực thể hoá; quá trình hoá; thuộc tính hoá.Tóm tắt
TÓM TẮT: Ngữ nghĩa học lịch đại truyền thống đã mô tả các cơ chế biến đổi nghĩa từ bằng các
khái niệm công cụ chủ đạo quen thuộc là ẩn dụ, hoán dụ, khái quát hóa, chuyên biệt hóa, xấu nghĩa,
tốt nghĩa, loại suy, mở rộng, thu hẹp,…Tuy nhiên, những khái niệm này có hai nhược điểm đáng chú
ý là: thường không được cắt nghĩa rõ ràng và không được phân biệt với nhau một cách rành mạch;
không giải thích được nhiều hiện tượng biến đổi nghĩa phổ biến. Để khắc phục những nhược điểm
này, chúng ta có thể sử dụng các thuật ngữ của ngữ nghĩa học quan hệ như thăng cấp và giáng cấp
ngữ nghĩa, nhân quả hoá (quả hoá, nhân hoá), vai hoá, thực thể hoá, quá trình hoá, thuộc tính
hoá,…để giải thích, mô tả các quá trình biến đổi nghĩa trong tiếng Việt.
TÙ KHÓA: ngữ nghĩa học quan hệ; ẩn dụ; hoán dụ; khái quát hoá; chuyên biệt hoá; xấu nghĩa; tốt
nghĩa; loại suy; thăng cấp; giáng cấp; nhân quả hoá; vai hoá thực thể hoá; quá trình hoá; thuộc tính
hoá.